Về Trang Phan Đình Diệu

Vấn đề đoàn kết dân tộc
dưới cách nhìn mới của khoa học

Phan Đình Diệu

2005

Các lý thuyết khoa học được phát triển trong nhiều thế kỷ vừa qua, trước hết trong các lĩnh vực vật lý và các khoa học tự nhiên, rồi sau đó cả trong nhiều lĩnh vực của khoa học về sự sống, kinh tế và xã hội, đã là nền tảng vững chắc cho nhận thức của chúng ta về các đối tượng tự nhiên và xã hội, cũng như cho hành động thực tiễn của con người trong mọi lĩnh vực phát triển công nghệ, khai thác tự nhiên, tổ chức và quản lý các hoạt động sản xuất, kinh tế và xã hội. Mỗi lý thuyết khoa học như vậy là một hệ thống kiến thức về một lĩnh vực nào đó được xây dựng và phát triển trên cơ sở một phương pháp khoa học thể hiện một tư duy khoa học, mà các yếu tố chủ yếu là: 1) có một căn cứ ban đầu là một số các nguyên lý, định luật được thừa nhận là đúng đắn do đã được khám phá bằng quan sát, thực nghiệm, thí dụ như các qui luật Newton về chuyển động và hấp dẫn trong cơ học; 2) được phát triển tiếp tục bằng các suy luận duy lý mà cơ bản là các phép suy luận diễn dịch của lô gích hình thức cổ điển; và 3) các kết quả hay kết luận tìm ra cần được kiểm nghiệm trong thực tế để được giữ lại hoặc bị loại bỏ hay thay thế nếu không phù hợp. Tư duy khoa học theo khuôn mẫu đó cũng thường được gọi là tư duy cơ giới, tư duy phân tích và duy lý, v.v…, theo cách tư duy và phương pháp đó, khi xây dựng một lý thuyết khoa học về một đối tượng nhận thức nào đó ta thường phân tích đối tượng ra thành các thành phần đơn giản, rồi tìm các qui luật đơn giản cho sự vận động của các thành phần đó cũng như cho sự tương tác giữa chúng, sau đó hy vọng bằng cách gộp các kết quả thu được ta sẽ có được những nhận thức đúng đắn về đối tượng. Bằng các phương pháp phân tích và qui giản đó người ta đã phát triển được nhiều lý thuyết khoa học tuyệt vời như lý thuyết vật lý về các chuyển động cơ học; từ đó người ta cũng đã hy vọng sử dụng các phương pháp đó cho việc xây dựng lý thuyết khoa học về các lĩnh vực khác, kể cả các lĩnh vực liên quan đến con người và xã hội, với niềm tin rằng "có những luật tự nhiên thống trị xã hội loài người như đã thống trị thế giới vật lý"! Nhiều lý thuyết khoa học về tự nhiên cũng như về kinh tế, xã hội đã được phát triển trong các thế kỷ 19, 20 đều mang đậm dấu ấn ảnh hưởng của các phương pháp đó.

Tuy nhiên, vào những thập niên cuối thế kỷ 20, khi con người càng ngày càng phải đối diện với các yêu cầu nhận thức về những vấn đề phức tạp trong thế giới tự nhiên cũng như trong xã hội thì cách tư duy duy lý và các phương pháp khoa học truyền thống cũng càng ngày càng bộc lộ những điều bất cập của mình. Các đối tượng thực tế trong tự nhiên cũng như trong xã hội là những hệ thống phức tạp, gồm rất nhiều thành phần tương tác với nhau trong những mối quan hệ cực kỳ phong phú và đa dạng, chỉ bằng những phương pháp phân tích và qui giản thì nhiều lắm ta chỉ có được những hiểu biết bề mặt, sơ lược và phiến diện về thực tế, chứ khó có thể hiểu được thấu đáo nhiều thuộc tính rất bản chất của chúng. Dường như trong khi chúng ta mải mê săn tìm nhiều hiểu biết chi tiết về các thành phần, các bộ phận, thì về hành vi toàn thể của cả hệ thống ta lại không biết gì cả, mà thực ra cái ta cần biết lại chính là những hành vi toàn thể đó, đó là sự sống của một con người, sức mạnh của một tổ chức, cái làm nên sự giàu có của một nền kinh tế, sự phong phú của một xã hội, v.v… Điều mà con người mong muốn thu nhận được từ một khoa học thật sự không phải chỉ là để hiểu một vật riêng lẻ, một phân tử, một hạt cơ bản, một tế bào, một nơ ron,… làm gì; mà là để hiểu hàng nghìn, hàng triệu những vật như vậy cùng làm gì, cùng tạo nên cái gì. Và để đáp ứng những nhu cầu hiểu biết đó, một khoa học mới, khoa học về các hệ thống phức tạp đã được hình thành và phát triển trên cơ sở của một tư duy mới, tư duy hệ thống, và những phương pháp nghiên cứu mới, những phương pháp dựa vào cách nhìn toàn thể, sử dụng các công cụ mô hình hoá và mô phỏng của tin học và máy tính điện tử, đồng thời kết hợp với các khả năng nhận thức trực giác, lập luận định tính và trực cảm trí tuệ của con người. Tuy được phát triển chưa lâu, nhưng nhiều nhà khoa học lớn như nhà vật lý nổi tiếng Stephen Hawking đã nhận định khoa học về phức tạp sẽ là khoa học của thế kỷ 21.

Khoa học mới về phức tạp có nội dung là nghiên cứu các hiện tượng và hành vi có tính phổ biến của các hệ thống phức tạp trong nhiều lĩnh vực khác nhau, như các vấn đề về liên kết và tương tác phi tuyến, hỗn độn, phức tạp, trạng thái "ở bên bờ hỗn độn" và tính tự tổ chức, tính thay đổi đột ngột, khả năng thích nghi và tiến hoá, khả năng học và việc hình thành các thuộc tính "hợp trội", v.v… Các kiến thức mà khoa học mới này thu được không nhất thiết là các định lý được chứng minh một cách chặt chẽ một cách duy lý, nhưng cho ta nhiều hiểu biết mới rất có ý nghĩa để tìm hiểu các vấn đề thực tế. Thí dụ người ta phát hiện ra rằng có các hệ thống tuy đơn giản nhưng có một vài liên kết phi tuyến có thể có những hành vi lạ thường mà ngày nay ta gọi là hỗn độn, một hệ thống thích nghi phức tạp (tức gồm nhiều tác tử tương tác với nhau) thường ở trong những trạng thái xa cân bằng hay ở bên bờ hỗn độn, đó là trạng thái mà các liên kết tương tác tích cực làm tăng các khả năng học và thích nghi của các tác tử để cùng tạo nên những thuộc tính hợp trội, những chất lượng mới của tính tổ chức và trật tự của hệ thống. Sự phát triển của các hệ thống phức tạp là một quá trình tiến hoá, nhưng tiến hoá không phải chỉ bằng cơ chế đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên để loại bỏ nhau, mà còn là, và chủ yếu là, bằng cơ chế thích nghi làm tăng khả năng học để tìm được các giải pháp hiệp tác cùng tiến hoá, do đó tiến hoá luôn làm giàu có thêm, phong phú thêm cái đa dạng của thế giới. Những tiến hoá như vậy thường không nhất thiết cần có một sự chỉ huy từ một trung tâm nào cả, mà xuất hiện một cách tự phát từ dưới lên như kết quả tổng hợp các tương tác giữa các thành phần. Ta hy vọng là khoa học mới của thế kỷ 21 này sẽ còn cho ta nhiều hiểu biết mới giúp ta nhận thức đúng đắn hơn về thế giới và cuộc sống của chúng ta.

Đất nước ta, thế giới mà ta đang sống, đều là những hệ thống thích nghi phức tạp. Từ sau khi thống nhất, đất nước ta đã có nhiều thay đổi. Về cơ bản, trên đất nước ta những mâu thuẫn đối kháng một mất một còn phải được giải quyết bằng đấu tranh ai thắng ai đã không còn, một mục tiêu chung vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh đã trở thành cái lẽ chung cho sự đồng thuận xã hội. Có thể xem đó là những nét chính về một môi trường mới cho sự phát triển trong tiến hoá của đất nước. Tất nhiên nói như thế không có nghĩa là đất nước đã ở trong một trạng thái cân bằng ổn định, vả chăng cái cân bằng ổn định cũng đồng thời là cái trì trệ không đổi là cái mà ta không hề mong đợi. Vẫn còn đó nhiều cái khác nhau, thậm chí đối chọi và cạnh tranh nhau, cùng chung sống với nhau và tương tác với nhau trong những quan hệ hết sức đa dạng. Đoàn kết toàn dân tộc ngày nay không còn có ý nghĩa là đòi hỏi phải thống nhất một ý chí và hành động theo một sự chỉ đạo duy nhất, mà phải là trong môi trường của sự đồng thuận chung, mọi thành phần được tự do phát huy mọi năng lực trong hoạt động của mình, để rồi qua sự tương tác hết sức đa dạng của xã hội tạo nên những hợp trội, tức là những chất lượng mới, những trật tự mới làm nên những giàu có chung của toàn xã hội. Nền kinh tế mới gồm nhiều thành phần, nhiều doanh nghiệp, nhiều doanh nhân khác nhau, chính trong quá trình tiến hoá sẽ tự tìm được các mối liên kết, các chiến lược phát triển riêng cho mình, sẽ tự học được cách thích nghi trong hợp tác và cạnh tranh, v.v… mà tự lớn mạnh và cùng lớn mạnh chung trong sự vươn lên giàu có của cả đất nước. Ta thường nói về chủ trương xây dựng giai cấp công nhân, đồng thời cũng chủ trương tôn vinh tầng lớp doanh nhân. Cần phải hiểu thế nào cho đúng? Phát triển đội ngũ công nhân với tư cách là một lực lượng lao động công nghiệp thì quả là cần thiết, nhưng xây dựng giai cấp công nhân với tư cách là một giai cấp đấu tranh theo nghĩa giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin thì đối với yêu cầu của đất nước ta hiện nay có lẽ đã là lỗi thời. Đấu tranh với giai cấp tư sản để xoá bỏ bóc lột, xoá bỏ bản thân giai cấp tư sản ư? Thế thì còn đâu là sự thành thực trong việc tôn vinh tầng lớp doanh nhân? Ta cần có một cách hiểu khác về những vấn đề này. Theo quan điểm hệ thống của khoa học mới, ta hiểu doanh nhân và công nhân đều là những thành phần của cùng một hệ thống, giữa các thành phần đó có những lợi ích khác nhau nhưng cũng có nhiều lợi ích chung nhau, trong hành động của các thành phần đó vừa có mặt đấu tranh vừa có mặt hiệp tác, và ta hy vọng là trong quá trình tiến hoá sẽ đến một tương lai nào đó, mặt hiệp tác sẽ nổi trội hơn, quan hệ giữa các thành phần đó sẽ không còn là "ai thắng ai" mà sẽ là "thắng-thắng", tức cả hai đều thắng. Còn nhiều mối quan hệ phức tạp khác trong xã hội ta, nhưng phải chăng đã đến lúc ta có thể tìm cho chúng những cách hiểu mới để củng cố thêm sự đồng thuận, tăng cường các khả năng hợp tác để luôn luôn có thể đi đến những chiến lược chung "thắng-thắng", tạo nên những nội dung mới và chất lượng mới cho sự giàu có chung của đất nước. Trên tinh thần đó, tôi nghĩ rằng cả những vấn đề tưởng chừng nan giải như "mâu thuẫn" giữa chủ nghĩa duy vật và tín ngưỡng tôn giáo cũng sẽ đến lúc trong tinh thần của khoa học mới tìm được chiến lược hiệp tác để cùng phát triển và cùng làm giàu có cho nhau.

Tôi hy vọng rằng một vài điều trình bày sơ lược trên đây không phải là những mơ tưởng hão huyền, tôi tin rằng khoa học mới trong thế kỷ mới sẽ thực sự cung cấp cho chúng ta nhiều nhận thức mới hỗ trợ đắc lực cho những tư duy mới của chúng ta trên con đường tìm thêm những căn cứ mới cho sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc.